Chính thức từ 18/5/2026, Chủ tịch UBND cấp xã được tước chứng chỉ hành nghề Luật sư đúng không?
Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP. Trong đó quy định về điều khoản xử phạt bổ sung tước chứng chỉ hành nghề Luật sư cho chủ tịch UBND cấp xã có hiệu lực từ 18/5/2026.
1. Chính thức từ 18/5/2026, Chủ tịch UBND cấp xã được tước chứng chỉ hành nghề Luật sư đúng không?
Ngày 1/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Theo đó, tại Điều 8, Điều 12 và khoản 1 Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND cấp xã đối với Luật sư trong đó có hình thức phạt bổ sung tước chứng chỉ hành nghề chính thức có hiệu lực từ 18/5/2026.
Như vậy, chính thức từ 18/5/2026, Chủ tịch UBND cấp xã được tước chứng chỉ hành nghề Luật sư theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
Tuy nhiên, ngày 07/5/2026, Liên đoàn Luật sư Việt Nam (LĐLSVN) đã có Công văn 197/LĐLSVN-BTV năm 2026 về việc đề nghị xem xét tạm đình chỉ thực hiện một số điều khoản trong Nghị định 109/2026/NĐ-CP. Theo đó:
|
(1) Liên đoàn Luật sư Việt Nam đề nghị Chính phủ xem xét, tạm dừng hiệu lực thi hành quy định tại Điều 8, Điều 12 và khoản 1 Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND cấp xã để đảm bảo phù hợp với Luật Luật sư và không xung đột với Nghị định 118/2021/NĐ-CP và Nghị định 121/2025/NĐ-CP. (2) Liên đoàn Luật sư Việt Nam đề nghị Chính phủ tổ chức rà soát lại các hành vi vi phạm hành chính có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là tước Chứng chỉ hành nghề luật sư thuộc thẩm của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã được quy định trong Nghị định 109/2026/NĐ-CP. (3) Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận thực hiện việc giám sát công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo Nghị quyết 66-NQ/TW năm 2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, trong đó có việc xây dựng và thi hành Nghị định 109/2026/NĐ-CP, góp phần xây dựng đội ngũ luật sư có chất lượng, xây dựng nghề luật sư ngày càng phát triển để đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. |
2. Nội dung tập sự hành nghề luật sư bao gồm những nội dung gì?
Nội dung tập sự hành nghề luật sư quy định tại Điều 6 Thông tư 10/2021/TT-BTP bao gồm:
(1) Pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư, Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.
(2) Kỹ năng nghiên cứu, thu thập tài liệu và đề xuất hướng giải quyết hồ sơ vụ việc.
(3) Kỹ năng tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.
(4) Kỹ năng tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.
(5) Kỹ năng tư vấn pháp luật.
(6) Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật.
(7) Kỹ năng thực hiện dịch vụ pháp lý khác.

3. Các hành vi bị nghiêm cấm khi hành nghề luật sư
Căn cứ theo Điều 9 Luật Luật sư 2006 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Luật Luật sư sửa đổi 2012) quy định các hành vi bị nghiêm cấm khi hành nghề luật sư như sau:
– Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là vụ, việc);
– Cố ý cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật;
– Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;
– Sách nhiễu, lừa dối khách hàng;
– Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý;
– Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc;
– Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
– Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho các khách hàng thuộc đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; từ chối vụ, việc đã đảm nhận theo yêu cầu của tổ chức trợ giúp pháp lý, của các cơ quan tiến hành tố tụng, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc theo quy định của pháp luật;
– Có lời lẽ, hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng;
– Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác.
