Hướng dẫn miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với các trường hợp khác từ 31/01/2026
Ngày 31/01/2026, Chính phủ chính thức bạn hành Nghị định 50/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật đất đai về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, trong đó có một số điểm đáng chú ý cụ thể như sau:
1. Các trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
Căn cứ khoản 1 Điều 157 Luật Đất đai 2024 được sửa đổi, bổ sung tại Luật Hàng không dân dụng Việt Nam và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025, các trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất bao gồm:
– Sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoặc tại địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan, trừ trường hợp sử dụng đất xây dựng nhà ở thương mại, sử dụng đất thương mại, dịch vụ;
– Sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với cách mạng, thương binh hoặc bệnh binh không có khả năng lao động, hộ gia đình liệt sĩ không còn lao động chính, người nghèo; sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà lưu trú công nhân trong khu công nghiệp, nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân, cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư theo quy định của pháp luật về nhà ở; đất ở cho người phải di dời khi Nhà nước thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; đất ở cho các đối tượng quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều 124 Luật Đất đai 2024 đang công tác tại các xã biên giới, hải đảo hoặc huyện đảo không có đơn vị hành chính cấp xã thuộc vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
– Đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng đất được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của Chính phủ;
– Sử dụng đất của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 120 Luật Đất đai 2024;
– Sử dụng đất xây dựng công trình tại cảng hàng không, công trình bảo đảm hoạt động bay; đất để làm bãi đỗ xe, xưởng bảo dưỡng phục vụ hoạt động vận tải hành khách công cộng; đất xây dựng công trình trên mặt đất phục vụ cho việc vận hành, khai thác sử dụng công trình ngầm;
– Sử dụng đất xây dựng kết cấu hạ tầng đường sắt chuyên dùng; đất xây dựng công trình công nghiệp đường sắt; đất xây dựng công trình phụ trợ khác trực tiếp phục vụ công tác chạy tàu, đón tiễn hành khách, xếp dỡ hàng hóa của đường sắt;
– Sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư;
– Sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng trụ sở, sân phơi, nhà kho, nhà xưởng sản xuất; xây dựng cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;
– Sử dụng đất xây dựng công trình cấp nước sạch và thoát nước, xử lý nước thải tại khu vực đô thị và nông thôn;
– Sử dụng đất không phải đất quốc phòng, an ninh cho mục đích quốc phòng, an ninh của doanh nghiệp quân đội, công an;
– Giao đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở và không có chỗ ở nào khác trong địa bàn đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất thu hồi;
– Sử dụng đất để xây dựng phòng thí nghiệm, đất xây dựng cơ sở ươm tạo công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đất xây dựng cơ sở thực nghiệm, đất xây dựng cơ sở sản xuất thử nghiệm, đất xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng dùng chung để hỗ trợ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp khoa học và công nghệ; tổ chức khoa học và công nghệ; trung tâm nghiên cứu và phát triển; trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp quốc gia, trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh.

2. Hướng dẫn miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các trường hợp khác từ 31/1/2026
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 10 Nghị quyết 254/2025/QH15 quy định về các trường hợp miễn, giảm tiền sử dụng đất như sau:
“Điều 10. Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi chuyển mục đich sử dụng đất
…3. Chính phủ quy định chi tiết các nội dung sau:
a) Các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chưa được quy định tại khoản 1 Điều 157 của Luật Đất đai;…”
Căn cứ Điều 10 Nghị định 50/2026/NĐ-CP quy định miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các trường hợp khác quy định tại điểm a khoản 3 Điều 10 Nghị quyết 254/2025/QH15 như sau:
“Điều 10. Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các trường hợp khác quy định tại điểm a khoản 3 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15
1. Căn cứ giải pháp điều hành kinh tế – xã hội hằng năm của Chính phủ, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan trình Chính phủ xem xét, quy định việc giảm tiền thuê đất hằng năm.
2. Các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất quy định tại điểm a khoản 3 Điều 10 Nghị quyết số 254/2025/QH15 bao gồm:
a) Các trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định số 230/2025/NĐ-CP ngày 19/8/2025 của Chính phủ quy định các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Luật Đất đai năm 2024.
b) Miễn tiền thuê đất cho cả thời gian thuê đối với: Đất xây dựng kết cấu hạ tầng hàng hải (trừ tài sản kết cấu hạ tầng hàng hải quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định số 84/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng hải) và các khu hậu cứ sửa chữa, bảo dưỡng phao, tiêu báo hiệu hàng hải do doanh nghiệp nhà nước quản lý, khai thác để cung cấp dịch vụ sự nghiệp công bảo đảm an toàn hàng hải; thông tin duyên hải; Đất xây dựng các công trình cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay nằm ngoài cảng hàng không, sân bay; Đất không phải là đất an ninh của đơn vị công an có chức năng cung cấp dịch vụ công theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập.
c) Giảm 30% tiền sử dụng đất hằng năm đối với các trường hợp sử dụng đất an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế quy định tại khoản 2 Điều 201 Luật Đất đai năm 2024, Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; cụ thể như sau: Bộ trưởng Bộ Công an có trách nhiệm phân công cơ quan chức năng tính số tiền sử dụng đất được giảm và ghi vào trong thông báo nghĩa vụ tài chính của Bộ Công an gửi đơn vị, doanh nghiệp nhà nước do Bộ Công an được giao quản lý; phân công cơ quan chức năng hướng dẫn việc thu, nộp tiền sử dụng đất hằng năm theo quy định tại Nghị định số 102/2024/NĐ-CP và Nghị định này với đơn vị, doanh nghiệp nhà nước do Bộ Công an được giao quản lý. Trường hợp qua kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện đối tượng sử dụng đất an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế không sử dụng đất đúng với phương án sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì phải thực hiện việc nộp lại số tiền sử dụng đất hằng năm đã được giảm theo quy định.
3. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trường hợp cần thiết phải có chính sách ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất gửi Bộ Tài chính để tổng hợp trình Chính phủ quyết định. Đề xuất của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải xác định rõ cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn, đề xuất cụ thể đối tượng, mức miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và đánh giá đầy đủ tác động của nội dung đề xuất.”
Nghị định 50/2026/NĐ-CP được xem là “chìa khóa” để giải quyết các dự án tồn đọng bằng cách tháo gỡ dứt điểm các vướng mắc về miễn, giảm tiền sử dụng đất cho các trường hợp chuyển tiếp từ luật cũ. Quy định mới giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện để doanh nghiệp sớm xác định nghĩa vụ tài chính và đưa đất đai vào khai thác. Đặc biệt, chính sách này giúp khơi thông nguồn lực kinh tế đang bị đóng băng, đồng thời đảm bảo tính công bằng thông qua cơ chế kiểm soát mục đích sử dụng đất sau ưu đãi.
