Giết người không thành bị phạt bao nhiêu năm tù theo Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Theo pháp luật hiện hành, giết người không thành vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội giết người. Trường hợp người phạm tội cố tình thực hiện hành vi đến cùng, dù hậu quả chết người không xảy ra, tình tiết này được xem xét khi quyết định mức hình phạt để xác định mức độ trách nhiệm hình sự phù hợp, cụ thể như sau:
1. Giết người không thành bị phạt bao nhiêu năm tù
Căn cứ khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt như sau:
“Điều 57. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
…3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”.
Theo đó, đối với hành vi giết người không thành, mức hình phạt được xác định trên cơ sở khung hình phạt của tội giết người nhưng có điều chỉnh do chưa đạt hậu quả chết người. Đối chiếu với Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội giết người như sau:
“Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.”
Như vậy, mức hình phạt tù đối với hành vi giết người không thành được xác định như sau:
– Trường hợp giết người không thành thuộc khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015: hình phạt cao nhất tại khoản này là tù chung chân hoặc tử hình. Do đó, hình phạt áp dụng đối với trường hợp phạm tội chưa đạt là phạt tù không quá 20 năm.
– Trường hợp giết người không thành thuộc khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015: hình phạt cao nhất tại khoản này là phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (tù có thời hạn). Do đó, hình phạt áp dụng đối với trường hợp phạm tội chưa đạt sẽ không quá: 15 năm x ¾ = 11,25 năm (tức 11 năm 3 tháng).
Như vậy, hành vi giết người không thành vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Tùy vào khung áp dụng, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 năm đến tối đa 20 năm, hoặc trong trường hợp thuộc khoản 2 Điều 123 thì mức hình phạt không vượt quá 11 năm 03 tháng tù. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung như cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm, theo quy định của pháp luật hình sự.

2. Người phạm tội giết người không thành nhưng cố ý phạm tội đến cùng có bị tăng nặng trách nhiệm hình sự không ?
Căn điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi điểm b khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định các tình tiết tăng nặng, cụ thể như sau:
“Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
…e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;”
Như vậy, hành vi cố tình thực hiện tội giết người đến cùng, dù hậu quả chết người chưa xảy ra (giết người không thành), được xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết này sẽ được Tòa án xem xét khi quyết định hình phạt, trừ trường hợp đã được sử dụng làm dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không tiếp tục áp dụng để tăng nặng. Quy định về tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 đã tạo lập hành lang pháp lý toàn diện và minh bạch, giúp cá thể hóa hình phạt và bảo vệ hiệu quả các đối tượng yếu thế trong xã hội.
